Perú
|
Cộng hòa Perú
|
|||||
|---|---|---|---|---|---|
Tên bản ngữ
| |||||
Tiêu ngữ: Firme y feliz por la unión (Tây Ban Nha) (tiếng Việt: "Vững vàng và Hạnh phúc cho Sự thống nhất") | |||||
Vị trí của Perú (xanh) trên thế giới. | |||||
| Tổng quan | |||||
| Thủ đô và thành phố lớn nhất | 12°2.6′N 77°1.7′T / 12,0433°N 77,0283°T | ||||
| Ngôn ngữ chính thức | Tiếng Tây Ban Nha | ||||
| Ngôn ngữ địa phương[a] | |||||
| Sắc tộc (2013) | Các chủng tộc
| ||||
| Tôn giáo | Các tôn giáo
| ||||
| Tên dân cư | Người Perú | ||||
| Chính trị | |||||
| Chính phủ | Tổng thống chế cộng hòa dân chủ đại nghị[2][3] | ||||
| José María Balcázar | |||||
| Không có | |||||
| Không có | |||||
| Denisse Miralles | |||||
| Lập pháp | Quốc hội Cộng hòa | ||||
| Lịch sử | |||||
| Độc lập | |||||
• Tuyên bố | 28 tháng 7 năm 1821 | ||||
| 9 tháng 12 năm 1824 | |||||
• Được công nhận | 14 tháng 8 năm 1879 | ||||
| Địa lý | |||||
| Diện tích | |||||
• Tổng cộng | 1.285.216 km2 (hạng 19) 496.225 mi2 | ||||
• Mặt nước (%) | 0.41 | ||||
| Dân số | |||||
• Ước lượng 2018 | 32.553.697[4] (hạng 43) | ||||
• Điều tra 2007 | 28.220.764 | ||||
• Mật độ | 23/km2 57/mi2 | ||||
| Kinh tế | |||||
| GDP (PPP) | Ước lượng 2025 | ||||
• Tổng số | |||||
| GDP (danh nghĩa) | Ước lượng 2025 | ||||
• Tổng số | |||||
• Bình quân đầu người | |||||
| Đơn vị tiền tệ | Sol (PEN) | ||||
| Thông tin khác | |||||
| Gini? (2022) | trung bình | ||||
| HDI? (2023) | cao · hạng 79 | ||||
| Múi giờ | UTC−5 (PET) | ||||
| Cách ghi ngày tháng | nn.tt.nnnn (CE) | ||||
| Giao thông bên | phải | ||||
| Mã điện thoại | +51 | ||||
| Mã ISO 3166 | PE | ||||
| Tên miền Internet | .pe | ||||
| |||||
Perú (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [peˈɾu], cũng thường viết không dấu là Peru), tên chính thức là Cộng hòa Perú (tiếng Tây Ban Nha: República del Perú, phát âm [reˈpuβlika ðel peˈɾu] ⓘ), là một quốc gia nằm ở phía Tây Nam Mỹ. Về phía bắc, Perú có biên giới với Ecuador và Colombia, về phía đông là Brasil, về phía đông nam là Bolivia, ở phía nam là Chile, phía tây Perú là Thái Bình Dương.
Lãnh thổ Perú là quê hương của nhiều nền văn hóa cổ đại, trải dài từ văn minh Norte Chico – một trong các nền văn minh cổ xưa nhất trên thế giới, đến Đế quốc Inca – quốc gia lớn nhất châu Mỹ thời kỳ tiền Colombo. Đế quốc Tây Ban Nha chinh phục khu vực vào thế kỷ XVI và thiết lập một phó vương quốc với thủ đô tại Lima. Sau khi giành được độc lập vào năm 1821, Perú trải qua các giai đoạn bất ổn định chính trị và khủng hoảng ngân sách, cũng như các giai đoạn ổn định và kinh tế tiến bộ.
Perú là một nước cộng hòa dân chủ đại nghị, được chia thành 25 vùng. Địa lý Perú biến đổi từ các đồng bằng khô hạn ở vùng duyên hải Thái Bình Dương đến các đỉnh của dãy Andes và các khu rừng nhiệt đới ở bồn địa Amazon. Perú là một quốc gia đang phát triển, có chỉ số phát triển con người ở mức cao và mức nghèo là khoảng 25,8%.[11] Các hoạt động kinh tế chính của quốc gia gồm có khai mỏ, chế tạo, nông nghiệp và ngư nghiệp.
Perú là quốc gia đa sắc tộc, với dân số ước tính là 30,4 triệu, thành phần dân tộc bao gồm người da đỏ, người gốc Âu, người gốc Phi và người gốc Á. Ngôn ngữ chính được nói là tiếng Tây Ban Nha, song một lượng đáng kể người Perú nói tiếng Quechua hay các ngôn ngữ bản địa khác. Sự kết hợp của các truyền thống văn hóa khiến cho Perú có sự đa dạng lớn trên các lĩnh vực như nghệ thuật, ẩm thực, văn chương và âm nhạc.
Nguồn gốc tên gọi
[sửa | sửa mã nguồn]Từ Perú có khởi nguyên trong các ngôn ngữ khác nhau ở nam bộ Pháp và tây bắc bộ Tây Ban Nha và cũng tìm thấy tại xứ Corse, tuy nhiên đối với người châu Âu, từ Perú là phù hợp nhất để thay thế tên gọi nguyên bản Birú, là tên của một quân chủ bản địa sống vào đầu thế kỷ XVI gần vịnh San Miguel thuộc Panama ngày nay.[12] Khi các nhà thám hiểm Tây Ban Nha đến thăm lãnh thổ của ông vào năm 1522, đó là phần cực nam của Tân Thế giới mà người châu Âu biết đến.[13] Do đó, khi Francisco Pizarro khám phá khu vực ở xa hơn về phía nam, chúng được đặt tên là Birú hay Perú.[14]
Vương quốc Tây Ban Nha trao cho tên gọi này địa vị pháp lý trong Capitulación de Toledo năm 1529, theo đó gọi tên Đế quốc Inca là tỉnh Perú.[15] Dưới sự cai trị của Tây Ban Nha, quốc gia nhận tên gọi Phó vương quốc Perú, và trở thành nước Cộng hòa Perú sau chiến tranh giành độc lập.
Địa lý
[sửa | sửa mã nguồn]
Perú là một quốc gia trên bờ biển phía tây trung tâm của Nam Mỹ đối diện với Thái Bình Dương. Nó nằm hoàn toàn ở Nam bán cầu, cực bắc của nó đạt tới 1,8 phút vĩ độ hoặc khoảng 3,3 km (2,1 mi) về phía nam của đường xích đạo. Perú có chung biên giới đất liền với Ecuador, Colombia, Brasil, Bolivia và Chile, với biên giới đất liền dài nhất được chia sẻ với Brasil.
Perú có diện tích 1.285.216 km2 (496.225 dặm vuông Anh), nằm ở tây bộ Nam Mỹ. Quốc gia này có biên giới với Ecuador và Colombia ở phía bắc, Brasil ở phía đông, Bolivia ở phía đông nam, Chile ở phía nam, và phía tây là Thái Bính Dương. Dãy núi Andes chạy song song với Thái Bình Dương; dãy núi này phân quốc gia thành ba khu vực về mặt địa lý. costa (duyên hải) ở phía tây là một đồng bằng hẹp, phần lớn là khô hạn ngoại trừ các thung lũng hình thành từ các sông theo mùa. sierra (đất cao) là khu vực Andes; gồm có cao nguyên Altiplano và đỉnh cao nhất quốc gia là Huascarán với cao độ 6.768 m (22.205 ft).[16] Vùng thứ ba là selva (rừng rậm) với địa hình bằng phẳng trải rộng với các rừng mưa Amazon mở rộng về phía đông. Khoảng 60% diện tích quốc gia thuộc vùng thứ ba này.[17]

Hầu hết sông tại Perú bắt nguồn từ các đỉnh của dãy Andes và chảy vào một trong ba lưu vực. Những sông đổ về Thái Bình Dương có đặc điểm là dốc và ngắn, dòng chảy không liên tục. Các chi lưu của sông Amazon có chiều dài lớn hơn, có dòng chảy lớn hơn nhiều, và có độ dốc nhỏ hơn khi ra khỏi khu vực sierra. Các sông đổ vào hồ Titicaca thường có chiều dài ngắn và có dòng chảy lớn.[18] Các sông dài nhất chảy qua lãnh thổ Perú là Ucayali, Marañón, Putumayo, Yavarí, Huallaga, Urubamba, Mantaro, và Amazon.[19]
Ảnh hưởng của dãy Andes và hải lưu Humboldt khiến quốc gia này có sự đa dạng rất lớn về khí hậu. Khu vực costa có nhiệt độ ôn hòa, lượng mưa thấp, độ ẩm cao, trừ phần phía bắc ấm hơn và có lượng mưa lớn hơn.[20] Khu vực sierra có mưa thường xuyên vào mùa hạ, nhiệt độ và ẩm độ giảm theo cao độ cho đến các đỉnh núi đóng băng của dãy Andes.[21] Khu vực selva có đặc trưng là lượng mưa lớn và nhiệt độ cao, ngoại trừ phần cực nam- là nơi có mùa đông lạnh và có mưa theo mùa.[22] Do địa hình và khí hậu đa dạng, Perú có đa dạng sinh học cao với 21.462 loài thực vật và động vật ghi nhận được tính đến năm 2003; 5.855 trong số đó là loài đặc hữu.[23]
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Các bằng chứng sớm nhất về sự hiện diện của con người tại lãnh thổ Perú có niên đại khoảng 9.000 năm TCN.[24] Xã hội phức tạp cổ nhất được biết đến tại Perú là văn minh Norte Chico, nền văn minh này hưng thịnh dọc theo bờ biển Thái Bình Dương trong khoảng từ 3.000 đến 1.800 TCN.[25] Theo sau những phát triển ban đầu này là các nền văn hóa khảo cổ học như Cupisnique, Chavin, Paracas, Mochica, Nazca, Wari, và Chimú. Vào thế kỷ XV, người Inca nổi lên thành một quốc gia hùng mạnh, tạo thành đế quốc lớn nhất châu Mỹ thời kỳ tiền Colombo, Đế quốc Inca tồn tại gần một thế kỷ.[26] Các xã hội Andes dựa vào nông nghiệp, sử dụng các kỹ thuật như thủy lợi và ruộng bậc thang; chăn nuôi lạc đà và ngư nghiệp cũng là hoạt động quan trọng. Tổ chức xã hội dựa trên sự hỗ thù và tái phân phối do các xã hội này không có khái niệm về thị trường hay tiền tệ.[27]
Vào tháng 12 năm 1532, một toán conquistador dưới quyền chỉ huy của Francisco Pizarro đánh bại và bắt giữ Hoàng đế Inca Atahualpa. Mười năm sau, Vương quốc Tây Ban Nha thiết lập Phó vương quốc Perú để quản lý hầu hết các thuộc địa tại Nam Mỹ của họ.[28] Phó vương Francisco de Toledo tái tổ chức quốc gia trong thập niên 1570, hoạt động kinh tế chính là khai mỏ bạc và nguồn lao động chính là những lao động cưỡng bức người da đỏ.[29]

Các thoi bạc của Perú cung cấp thu nhập cho Vương quốc Tây Ban Nha và thúc đẩy một mạng lưới mậu dịch phức tạp trải rộng đến tận châu Âu và Philippines.[30] Tuy nhiên, vào thế kỷ XVIII, sản lượng bạc suy giảm và kinh tế đa dạng hóa khiến cho thu nhập của vương thất Tây Ban Nha giảm mạnh.[31] Nhằm phản ứng, triều đình ban hành các cải cách Bourbon, với một loạt các chiếu chỉ nhằm tăng thuế và phân chia Phó vương quốc.[32] Các luật mới kích động các cuộc nổi dậy như của Túpac Amaru II, song tất cả đều bị đàn áp.[33]
Vào đầu thế kỷ XIX, trong khi hầu hết Nam Mỹ bị cuốn vào các cuộc chiến giành độc lập, thì Perú vẫn là một thành trì của những người bảo hoàng. Do giới tinh hoa dao động giữa giải phóng và trung thành với chế độ quân chủ Tây Ban Nha, Perú chỉ giành được độc lập sau khi bị chiếm đóng do chiến dịch quân sự của José de San Martín và Simón Bolívar.[34] Trong những năm đầu cộng hòa, đấu tranh cục bộ nhằm giành quyền lực giữa các lãnh đạo quân sự khiến cho chính trị bất ổn định.[35]
Đặc tính dân tộc Perú được rèn luyện trong giai đoạn này, khi mà các kế hoạch của Simón Bolívar nhằm thành lập một Liên minh Mỹ Latinh gặp khó khăn và một liên minh với Bolivia sớm tàn.[36] Từ thập niên 1840 đến thập niên 1860, Perú trải qua một giai đoạn ổn định trong nhiệm kỳ tổng thống của Ramón Castilla nhờ thu nhập quốc gia tăng lên từ xuất khẩu phân chim.[37] Tuy nhiên, đến thập niên 1870, tài nguyên này bị cạn kiệt, quốc gia lâm vào tình trạng nợ nần nghiêm trọng, và đấu tranh chính trị lại nổi lên.[38]
Perú chiến bại trước Chile trong Chiến tranh Thái Bình Dương 1879–1883, phải nhượng hai tỉnh Arica và Tarapacá theo các hiệp ước Ancón và Lima. Tiếp sau đấu tranh nội bộ hậu chiến là một giai đoạn ổn định dưới sự lãnh đạo của Đảng Bình dân, giai đoạn này kéo dài đến khi bắt đầu chế độ độc tài của Augusto B. Leguía.[39] Đại khủng hoảng khiến Leguía bị hạ bệ, hồi phục rối loạn chính trị, và Đảng Nhân dân Cách mạng châu Mỹ (APRA) nổi lên.[40] Trong ba thập niên sau đó, chính trị Perú có đặc điểm là tình trạng kình địch giữa tổ chức này và một liên minh của giới tinh hoa và quân sự.[41]
Năm 1968, Lực lượng vũ trang Perú dưới sự chỉ huy của Tướng General Juan Velasco Alvarado tiến hành đảo chính chống Tổng thống Fernando Belaunde. Chế độ mới cam kết cải cách triệt để nhằm thúc đẩy phát triển, song không nhận được ủng hộ rộng rãi.[42] Năm 1975, Tướng Francisco Morales Bermúdez thay thế Velasco, làm tệ liệt các cải cách, và giám thị việc tái lập chế độ dân chủ.[43] Trong thập niên 1980, Perú phải đối mặt với nợ nước ngoài lớn, lạm phát ngày càng tăng, buôn bán ma túy nổi lên, và bạo lực chính trị quy mô lớn.[44] Trong nhiệm kỳ tổng thống của Alberto Fujimori (1990–2000), quốc gia bắt đầu phục hồi; tuy nhiên, các cáo buộc độc đoán, tham nhũng, và vi phạm nhân quyền buộc Fujimori phải từ nhiệm sau cuộc bầu cử năm 2000 gây tranh cãi.[45] Từ khi chế độ của Fujimori kết thúc, Perú cố gắng chống tham nhũng trong khi duy trì tăng trưởng kinh tế.[46]
Đại dịch COVID-19 đã khiến Peru trở thành quốc gia có tỷ lệ tử vong do COVID-19 cao nhất thế giới, làm bộc lộ những bất bình đẳng sâu sắc tồn tại từ thời chính quyền Fujimori[47] và gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế dẫn đến việc Quốc hội phế truất Tổng thống Vizcarra.[48] Hành động này bị coi rộng rãi là một cuộc đảo chính của Quốc hội; người đứng đầu cơ quan này, tân Tổng thống Manuel Merino, đã phải đối mặt với các cuộc biểu tình trên toàn quốc và phải từ chức chỉ sau năm ngày tại vị.[49] Merino được thay thế bởi Tổng thống Francisco Sagasti, người lãnh đạo một chính phủ lâm thời trung dung và tiếp tục thực thi nhiều chính sách trước đó của Vizcarra.[50] Cuộc bầu cử diễn ra vào ngày 11 tháng 4 năm 2021, trong đó Pedro Castillo của đảng Peru Tự do đã giành chiến thắng ở vòng đầu tiên, theo sát là Keiko Fujimori, trong khi các đảng cánh hữu đồng minh với Fujimori vẫn giữ vững vị thế tại Quốc hội.[51]

Vào ngày 28 tháng 7 năm 2021, Pedro Castillo đã tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Peru mới sau chiến thắng sít sao trong vòng bầu cử chung kết đầy kịch tính.[52] Cùng năm đó, Peru đã kỷ niệm hai trăm năm ngày độc lập.[53] Trong nhiệm kỳ của mình, Castillo đã phải đối mặt với nhiều cuộc bỏ phiếu bãi nhiệm từ Quốc hội do phe cánh hữu kiểm soát. Vào ngày 7 tháng 12 năm 2022, chỉ vài giờ trước khi Quốc hội bắt đầu nỗ lực bãi nhiệm lần thứ ba, Castillo đã cố gắng ngăn chặn điều này bằng cách tuyên bố giải tán cơ quan lập pháp do phe đối lập kiểm soát và thành lập một "chính phủ khẩn cấp đặc biệt". Đáp lại, Quốc hội đã nhanh chóng tổ chức phiên họp khẩn cấp ngay trong ngày và bỏ phiếu với tỷ lệ 101–6 (10 phiếu trắng) để cách chức Castillo, thay thế ông bằng Phó Tổng thống Dina Boluarte. Bà đã trở thành nữ tổng thống đầu tiên của quốc gia này.[54][55] Castillo bị bắt giữ sau khi cố gắng trốn sang đại sứ quán México và bị cáo buộc tội nổi loạn.[56]
Chính phủ của Boluarte không nhận được sự ủng hộ từ công chúng khi bà liên minh với Quốc hội cánh hữu và quân đội, điều được coi là phản bội lại cử tri của mình.[57]<[58] Sự phẫn nộ này đã dẫn đến các cuộc biểu tình chính trị Peru 2022–2023, đòi hỏi bãi miễn Boluarte và Quốc hội, tổ chức tổng tuyển cử ngay lập tức và soạn thảo hiến pháp mới. Chính quyền đã phản ứng bằng bạo lực đối với các cuộc biểu tình, dẫn đến Thảm sát Ayacucho và Thảm sát Juliaca, gây ra tình trạng bạo lực nghiêm trọng nhất tại quốc gia này trong hơn hai thập kỷ.[57] Phản ứng cứng rắn từ giới tinh hoa chính trị tại Lima đã dấy lên lo ngại về ý định thiết lập một chính quyền độc tài hoặc một chính phủ dân sự-quân sự.[57][58][59] Vào ngày 10 tháng 10 năm 2025, Quốc hội Peru đã cách chức Tổng thống Dina Boluarte và José Jerí được tuyên thệ nhậm chức Tổng thống lâm thời của Peru.[60] Đến tháng 2 năm 2026, Quốc hội đã bỏ phiếu bãi nhiệm Tổng thống lâm thời José Jerí. Sau khi ông bị lật đổ, José María Balcázar được bầu làm Tổng thống lâm thời mới để lãnh đạo đất nước cho đến cuộc tổng tuyển cử dự kiến diễn ra vào ngày 12 tháng 4 năm 2026.[61]
Chính trị
[sửa | sửa mã nguồn]
Perú là một nước cộng hòa dân chủ đại nghị tổng thống với một hệ thống đa đảng. Theo hiến pháp hiện nay, Tổng thống là nguyên thủ quốc gia và chính phủ; người này được bầu cho một nhiệm kỳ 5 năm. Tổng thống chỉ định Thủ tướng, và cố vấn trong việc bổ nhiệm các thành viên khác của Hội đồng Bộ trưởng. Nghị viện theo nhất viện chế với 130 thành viên được bầu cho một nhiệm kỳ 5 năm. Các dự luật có thể được nhánh hành pháp hoặc lập pháp đệ trình, chúng sẽ thành luật sau khi được Nghị viện thông qua và được Tổng thống ban hành. Bộ máy tư pháp độc lập trên danh nghĩa, song sự can thiệp của chính quyền đối với các vấn đề pháp luật đã phổ biến trong suốt lịch sử và được cho là vẫn tiếp tục đến nay.[62]
Chính phủ Perú được bầu cử trực tiếp, và bầu cử là bắt buộc đối với tất cả công dân từ 18 đến 70 tuổi. Cuộc bầu cử tổ chức vào năm 2011 kết thúc với chiến thắng của ứng cử viên tổng thống Ollanta Humala thuộc liên minh Gana Perú trước Keiko Fujimori thuộc Fuerza 2011.[63] Nghị viện hiện gồm có Gana Perú (47 ghế), Fuerza 2011 (37 ghế), Alianza Parlamentaria (20 ghế), Alianza por el Gran Cambio (12 ghế), Solidaridad Nacional (8 ghế) và Concertación Parlamentaria (6 ghế).[64]
Các xung đột biên giới với các quốc gia láng giềng chi phối quan hệ đối ngoại của Perú, hầu hết chúng đều được giải quyết xong trong thế kỷ XX.[65] Hiện nay, Perú có tranh chấp giới hạn hàng hải với Chile trên Thái Bình Dương.[66] Perú là một thành viên tích cực của một số tổ chức khu vực và là một trong số các quốc gia sáng lập Cộng đồng các quốc gia Andes. Quốc gia này cũng tham gia các tổ chức quốc tế như Tổ chức các quốc gia châu Mỹ và Liên Hợp Quốc. Quân đội Perú gồm có lực lượng lục quân, hải quân và không quân; nhiệm vụ chính của quân đội Perú là bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia.[67] Các lực lượng vũ trang trực thuộc Bộ Quốc phòng và Tổng thống với vai trò là Tổng tư lệnh. Chế độ cưỡng bách tòng quân bị bãi bỏ vào năm 1999, thay thế là phục vụ quân sự tự nguyện.[68]
Phân cấp hành chính
[sửa | sửa mã nguồn]Perú được chia thành 25 vùng và tỉnh Lima. Mỗi vùng có một chính phủ được bầu gồm có Thống đốc và hội đồng, họ phục vụ theo các nhiệm kỳ 4 năm. Các chính phủ này đặt kế hoạch phát triển vùng, thực hiện các dự án đầu tư công, xúc tiến hoạt động kinh tế, và quản lý tài sản công. Tỉnh Lima được quản lý bởi một hội đồng thành phố. Mục tiêu của việc ủy thác quyền cho các chính phủ địa phương và thành phố, cùng với các hành động khác, là nhằm cải thiện sự tham gia của quần chúng. Các tổ chức phi chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phân tán quyền lực và vẫn có ảnh hưởng đến chính trị địa phương.[69]
- Vùng
- Tỉnh
Quan hệ đối ngoại
[sửa | sửa mã nguồn]
Trong những thập kỷ gần đây, quan hệ đối ngoại của Peru về mặt lịch sử chịu ảnh hưởng lớn bởi mối liên kết chặt chẽ với Hoa Kỳ và Châu Á,[70] đặc biệt thông qua Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại Thế giới, Liên minh Thái Bình Dương, Mercosur, và Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS).[65][71]
Peru là thành viên tích cực của nhiều khối thương mại khu vực và là một trong những thành viên sáng lập của Cộng đồng các quốc gia Andes. Quốc gia này cũng là thành viên của các tổ chức quốc tế như OAS và Liên Hợp Quốc.[72] Javier Pérez de Cuéllar, một nhà ngoại giao Peru, từng đảm nhiệm chức vụ Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc từ năm 1981 đến 1991.
Peru từng đặt kế hoạch hội nhập hoàn toàn vào Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) trước năm 2021, nhờ vào những thành tựu kinh tế và nỗ lực củng cố thể chế để đáp ứng các tiêu chuẩn gia nhập.[73][74] Là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, Peru đã thúc đẩy nhiều hiệp định thương mại tự do lớn, gần đây nhất là Hiệp định Thúc đẩy Thương mại Hoa Kỳ – Peru, Hiệp định Thương mại Tự do Trung Quốc – Peru, Hiệp định Thương mại Tự do với Liên minh Châu Âu, các thỏa thuận với Nhật Bản và nhiều đối tác khác.[75][76]
Peru duy trì mối quan hệ hội nhập sâu rộng với các quốc gia Nam Mỹ khác và tham gia nhiều thỏa thuận liên chính phủ trong khu vực như Tổ chức các quốc gia Châu Mỹ, Mercosur, Cộng đồng các quốc gia Andes, Liên minh Thái Bình Dương và APEC. Trong lịch sử, quan hệ với Chile từng có những giai đoạn căng thẳng, bao gồm phán quyết của tòa án quốc tế và Tranh chấp hàng hải Chile – Peru, nhưng cả hai nước đã đồng ý hợp tác để cải thiện mối quan hệ song phương.[77]
Peru cũng đóng vai trò dẫn dắt trong việc giải quyết cuộc Khủng hoảng tại Venezuela thông qua việc thành lập Nhóm Lima.[78]
Theo Chỉ số Hòa bình Toàn cầu năm 2024, Peru đứng thứ 99 trong danh sách các quốc gia hòa bình nhất thế giới.[79]
Quân sự
[sửa | sửa mã nguồn]
Peru sở hữu lực lượng quân sự lớn thứ tư tại Mỹ Latinh. Quân đội Peru – Lực lượng Vũ trang Peru – bao gồm Hải quân Peru (MGP), Lục quân Peru (EP) và Không quân Peru (FAP). Tính đến năm 2020, tổng quân số là 392.660 người (bao gồm 120.660 quân thường trực và 272.000 quân dự bị).[80] Nhiệm vụ chính của họ là bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia.[81] [82]
Chức năng của các quân chủng được phân chia cụ thể:
- Lục quân Peru: bao gồm Bộ Tổng tham mưu, hai Cơ quan Kiểm soát, hai Cơ quan Hỗ trợ, năm Quân khu và sáu Phòng Chỉ huy.
- Không quân Peru chính thức được thành lập vào ngày 20 tháng 5 năm 1929 với tên gọi Quân đoàn Hàng không Peru. Chức năng chính của lực lượng này là đảm nhiệm vai trò phòng không cho đất nước. Ngoài ra, Không quân còn tham gia các chiến dịch hỗ trợ xã hội cho các khu vực khó tiếp cận, tổ chức cầu hàng không trong thiên tai và tham gia các sứ mệnh hòa bình quốc tế. Bốn căn cứ không quân chính của lực lượng này đặt tại các thành phố Piura, Callao, Arequipa và Iquitos.
- Hải quân Peru chịu trách nhiệm phòng thủ vùng biển, vùng sông và hồ của đất nước với quân số khoảng 26.000 thủy thủ. Nhân sự được chia thành ba cấp: sĩ quan cấp cao, hạ sĩ quan và thủy thủ đoàn.
Quân đội được điều hành bởi Tổng tư lệnh, Bộ Quốc phòng và Bộ Chỉ huy Hỗn hợp Lực lượng Vũ trang Peru (CCFFAA). CCFFAA quản lý các Bộ Chỉ huy Hành quân và Bộ Chỉ huy Đặc biệt để thực hiện các chiến dịch quân sự cần thiết cho quốc phòng và hoàn thành các nhiệm vụ do quyền hành pháp giao phó.[83] Chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc đã bị bãi bỏ vào năm 1999 và được thay thế bằng nghĩa vụ quân sự tự nguyện.[84] Cảnh sát Quốc gia Peru thường được xếp vào hàng ngũ lực lượng vũ trang, tuy nhiên cơ quan này có cơ cấu tổ chức riêng biệt và mang sứ mệnh dân sự thuần túy. Dù vậy, các hoạt động huấn luyện và tác chiến (đặc biệt là đơn vị chống khủng bố trong hai thập kỷ qua) đã mang lại cho lực lượng này những đặc điểm quân sự rõ rệt, khiến họ được coi là nhánh quân sự thứ tư trên thực tế với năng lực tác chiến đường không, đường biển, đường bộ đáng kể và lực lượng khoảng 140.000 người. Lực lượng vũ trang Peru báo cáo thông qua Bộ Quốc phòng, trong khi Cảnh sát Quốc gia báo cáo thông qua Bộ Nội vụ.[85][81]
Kể từ khi kết thúc cuộc khủng hoảng nội bộ vào năm 2000, chính phủ liên bang đã cắt giảm đáng kể chi tiêu quốc phòng hàng năm.[86] Trong ngân sách giai đoạn 2016–2017, chi tiêu quốc phòng chiếm 1,1% GDP (tương đương 2,3 tỷ USD), đây là mức chi tiêu so với GDP thấp thứ hai ở Nam Mỹ, chỉ sau Argentina.[87] Gần đây hơn, quân đội Peru đã tham gia tích cực vào các nhiệm vụ phòng vệ dân sự. Năm 2020, Peru đã huy động quân đội và cả lực lượng dự bị để thực thi các biện pháp cách ly nghiêm ngặt trong thời kỳ đại dịch COVID-19.[88]
Kinh tế
[sửa | sửa mã nguồn]
Nền kinh tế của Peru lớn thứ 47 trên thế giới (xét theo PPP)[89] và được Ngân hàng Thế giới phân loại là quốc gia có mức thu nhập trung bình cao.[90] Tính đến năm 2011[cập nhật], Peru là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới nhờ sự bùng nổ kinh tế trong những năm 2000.[91] Quốc gia này có Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức 0,76, cao hơn mức trung bình toàn cầu và đã có sự cải thiện ổn định qua các năm tính đến năm 2024 (tăng thêm 0,007 điểm).[92] Trong lịch sử, hiệu quả kinh tế của đất nước luôn gắn liền với xuất khẩu, lĩnh vực cung cấp ngoại tệ mạnh để chi trả cho nhập khẩu và các khoản nợ nước ngoài.[93] Mặc dù xuất khẩu mang lại nguồn thu đáng kể, nhưng việc đạt được sự tăng trưởng bền vững và phân phối thu nhập bình đẳng hơn vẫn là một thách thức lớn.[94] Theo dữ liệu năm 2015, 19,3% tổng dân số là người nghèo, trong đó có 9% sống trong tình trạng nghèo khổ tột cùng.[95] Lạm phát năm 2012 của Peru ở mức thấp nhất Mỹ Latinh với chỉ 1,8%, nhưng đã tăng lên vào năm 2013 do giá dầu và hàng hóa tăng; Tính đến năm 2014[cập nhật], con số này là 2,5%,[96] và đạt mức 8,6% vào năm 2023.[97] Tỷ lệ thất nghiệp năm 2012 là 3,6%.

Chính sách kinh tế của Peru đã có nhiều thay đổi lớn kể từ thế kỷ 20. Chính quyền Juan Velasco Alvarado giai đoạn 1968–1975 đã đưa ra những cải cách triệt để, bao gồm cải cách ruộng đất, trưng thu các công ty nước ngoài, áp dụng hệ thống kế hoạch hóa kinh tế và thành lập khu vực kinh tế nhà nước quy mô lớn. Tuy nhiên, các biện pháp này đã không đạt được mục tiêu tái phân phối thu nhập và chấm dứt sự phụ thuộc kinh tế vào các quốc gia phát triển.[98]
Dẫu vậy, hầu hết các cải cách này không bị đảo ngược cho đến những năm 1990, khi chính quyền tự do hóa của Alberto Fujimori chấm dứt việc kiểm soát giá cả, chủ nghĩa bảo hộ, các hạn chế đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài và hầu hết quyền sở hữu nhà nước tại các công ty.[99]
Tính đến năm 2010[cập nhật], khu vực dịch vụ chiếm 53% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Peru, tiếp theo là công nghiệp chế tạo (22,3%), công nghiệp khai khoáng (15%) và thuế (9,7%).[100] Sự tăng trưởng kinh tế gần đây được thúc đẩy bởi sự ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện tỷ giá thương mại, cũng như sự gia tăng trong đầu tư và tiêu dùng.[101] Thương mại được dự báo sẽ còn tăng trưởng mạnh mẽ sau khi thực thi Hiệp định Thúc đẩy Thương mại Hoa Kỳ - Peru được ký kết vào ngày 12 tháng 4 năm 2006.[102] Các mặt hàng xuất khẩu chính của Peru là đồng, vàng, kẽm, dệt may và bột cá; các đối tác thương mại lớn nhất gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc, Brazil và Chile.[103]
Theo Viện Thống kê và Tin học Quốc gia (INEI), lao động phi chính thức chiếm tới 70% thị trường lao động vào năm 2019. Năm 2016, có gần ba triệu trẻ em và thanh thiếu niên làm việc trong khu vực phi chính thức này.[104]
Khai thác khoáng sản
[sửa | sửa mã nguồn]
Peru phụ thuộc rất nhiều vào ngành khai khoáng để xuất khẩu nguyên liệu thô, lĩnh vực chiếm tới 61,3% tổng giá trị xuất khẩu vào năm 2023.[105]Vào năm 2019, Peru là nhà sản xuất đồng[106] và kẽm lớn thứ hai thế giới,[107] đứng thứ tám về sản xuất vàng,[108] đứng thứ ba về chì,[109] thứ tư về thiếc,[110] thứ năm về boron[111] và thứ tư về molybden[112] – đó là chưa kể đến khí đốt và dầu mỏ. Năm 2023, đây là nhà sản xuất bạc lớn thứ ba trên toàn cầu.[113] Peru nắm giữ vị thế cạnh tranh đầy triển vọng trong ngành khai khoáng toàn cầu, duy trì vai trò dẫn đầu tại Mỹ Latinh với bề dày lịch sử khai thác lâu đời nhưng ít tính công nghiệp hóa; quốc gia này cũng chịu ảnh hưởng từ sự biến động giá cả hàng hóa trên thị trường quốc tế.[114]
Mỏ Yanacocha tại Cajamarca là nguồn khai thác vàng chính của Peru. Đây được coi là mỏ vàng lớn nhất Nam Mỹ và lớn thứ hai trên thế giới. Vào năm 2005, sản lượng đạt 3.333.088 ounce (94.491.500 g)[chuyển đổi: số không hợp lệ] vàng. Một minh chứng cho sự tăng trưởng của ngành này là giá trị xuất khẩu khoáng sản đã tăng vọt từ 1.447 triệu USD năm 1990[115] lên đến 39.639 triệu USD vào năm 2023.[105]
Nông nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]
Peru là nhà sản xuất diêm mạch và sâm maca lớn nhất thế giới; nằm trong nhóm 5 nhà sản xuất bơ, việt quất, atisô và măng tây hàng đầu; thuộc nhóm 10 quốc gia sản xuất cà phê và ca cao lớn nhất thế giới, đồng thời là một trong 15 nhà sản xuất khoai tây và dứa hàng đầu toàn cầu. Ngoài ra, quốc gia này còn có sản lượng đáng kể về nho, mía, lúa gạo, chuối, ngô và sắn; nền nông nghiệp của Peru có tính đa dạng rất cao. Trong ngành chăn nuôi, Peru là một trong 20 quốc gia sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới.[116]
Theo một báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) công bố vào tháng 8 năm 2022, một nửa dân số Peru đang rơi vào tình trạng thiếu an ninh lương thực ở mức độ vừa phải (16,6 triệu người), và hơn 20% (6,8 triệu người) thiếu an ninh lương thực nghiêm trọng: họ phải nhịn ăn cả ngày, thậm chí là vài ngày liên tục.[117][118]
Giám đốc FAO tại Peru nhấn mạnh rằng: "Đây là một nghịch lý lớn đối với một quốc gia có đủ lương thực cho người dân. Peru là nước sản xuất ròng về thực phẩm và là một trong những cường quốc xuất khẩu nông sản hàng đầu trong khu vực." Tình trạng thiếu an ninh lương thực bắt nguồn từ mức độ bất bình đẳng xã hội cao và mức lương thấp (lương tối thiểu của Peru thuộc hàng thấp nhất Nam Mỹ), cùng với khu vực kinh tế phi chính thức chiếm tỷ trọng lớn. Theo FAO, chính những nông dân nhỏ lẻ lại là những người phải chịu đói. Với thu nhập thấp, họ còn phải gánh chịu tác động từ biến đổi khí hậu, đối mặt với vấn nạn buôn bán ma túy trên vùng đất của mình và các hoạt động khai khoáng làm kiệt quệ tài nguyên đất.[117][118]
Du lịch
[sửa | sửa mã nguồn]
Du lịch là ngành công nghiệp lớn thứ ba tại Peru, chỉ đứng sau đánh bắt cá và khai khoáng. Ngành du lịch chủ yếu tập trung vào các di tích khảo cổ, do quốc gia này sở hữu hơn một trăm nghìn địa điểm khảo cổ. Theo một nghiên cứu của chính phủ Peru, tỷ lệ hài lòng của khách du lịch sau khi đến thăm Peru lên tới 94%. Peru đã trở thành một trong những điểm đến du lịch lớn nhất châu Mỹ và đây cũng là ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất cả nước, với mức tăng trưởng hàng năm đạt 25% trong 5 năm qua, mức cao nhất so với bất kỳ quốc gia nào khác ở Nam Mỹ.
Ngành du lịch đóng góp 7% vào GDP của Peru, được quản lý và thúc đẩy bởi Ủy ban Thúc đẩy Xuất khẩu và Du lịch Peru trực thuộc Bộ Ngoại thương và Du lịch. Vì lý do này, vào năm 2011, Marca Perú đã được thành lập; đây là một sáng kiến của Bộ Ngoại thương và Du lịch phối hợp cùng các doanh nghiệp và công ty khởi nghiệp Peru nhằm thúc đẩy việc mua bán và tiêu dùng các sản phẩm được sản xuất trong nước. Các trụ cột của sáng kiến này bao gồm: xuất khẩu, du lịch và đầu tư. Ngành du lịch tạo việc làm cho 11% dân số hoạt động kinh tế của đất nước (484.000 việc làm trực tiếp và 340.000 việc làm gián tiếp), phần lớn trong lĩnh vực nhà hàng khách sạn và giao thông vận tải. Peru nổi tiếng là điểm đến hoàn hảo cho các loại hình du lịch văn hóa, sinh thái, mạo hiểm, ẩm thực, biển và du lịch nghỉ dưỡng xa xỉ.

Những địa điểm thu hút đông đảo du khách nhất là thành phố Lima cùng khu trung tâm lịch sử, Cusco – nơi nổi bật với kiến trúc thời thuộc địa và thời Inca, nhưng điểm tham quan chính lại là Thung lũng Thiêng của người Inca và Machu Picchu. Các địa danh nổi tiếng khác tại Cusco bao gồm Qorikancha, Ollantaytambo, Písac và nhiều nơi khác. Arequipa cũng là một điểm đến du lịch lớn nhờ khu trung tâm lịch sử và hẻm núi Colca, cùng với Puno thông qua Hồ Titicaca. Tuyến du lịch chính của đất nước là tuyến phía nam, bao gồm các thành phố như: Ica, Nazca, Pisco, Paracas, Ayacucho, Puerto Maldonado cùng những nơi khác với các điểm tham quan về kiến trúc, văn hóa và thiên nhiên. Tuyến đường quan trọng thứ hai là Callejón de Huaylas, thuộc vùng Áncash, trung tâm của du lịch mạo hiểm và là điểm tham chiếu chính cho nền ẩm thực Tân Andes. Peru sở hữu 14 Di sản Thế giới và 15 vườn quốc gia.
Peru còn có nhiều tuyến du lịch khác. Đáng chú ý trong số đó là các tuyến qua thung lũng Sông Mantaro với thành phố Huancayo là một trong những trục chính, và thung lũng Tarma là trục còn lại, đồng thời là cửa ngõ dẫn vào khu vực rừng rậm miền trung và thành phố phía bắc Trujillo. Tại đây có Chan Chan – thành trì bằng gạch bùn lớn nhất thế giới, khu nghỉ dưỡng ven biển truyền thống Huanchaco cùng hai kim tự tháp Huacas del Sol và Huacas de la Luna thuộc nền văn hóa Chimú. Chiclayo, Piura và thành phố rừng mưa nhiệt đới Iquitos cũng là những điểm đến rất phổ biến. Theo Bộ Ngoại thương và Du lịch, lượng khách du lịch quốc tế đã tăng 7% trong năm 2015 và mang lại 3,5 tỷ USD ngoại tệ cho đất nước.
Công nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Ngân hàng Thế giới liệt kê danh sách các quốc gia sản xuất hàng đầu mỗi năm dựa trên tổng giá trị sản xuất. Theo danh sách năm 2019, Peru có ngành công nghiệp giá trị đứng thứ 50 trên thế giới (28,7 tỷ USD).[119] Năm 2025, Peru được xếp hạng thứ 80 trong Chỉ số Đổi mới Toàn cầu.[120][121]
Trong các năm 2011 và 2016, Peru là nhà cung cấp bột cá lớn nhất thế giới.[122] Đây cũng là quốc gia sản xuất len alpaca hàng đầu thế giới và là nước xuất khẩu hàng may mặc bằng bông quan trọng nhất ở Mỹ Latinh. Nhờ nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Peru là địa điểm tuyệt vời để phát triển ngành công nghiệp polyme trên quy mô toàn cầu. Đất nước này đang trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế và được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những quốc gia Nam Mỹ hấp dẫn nhất để phát triển kinh doanh, dựa trên các hiệp định và hiệp ước đã ký kết trong các khu vực thương mại tự do.
Giao thông
[sửa | sửa mã nguồn]Mạng lưới đường bộ của Peru vào năm 2021 bao gồm 175.589 km (109.106 mi) đường cao tốc, trong đó có 29.579 km (18.380 mi) đã được trải nhựa.[123] Một số tuyến đường cao tốc nổi bật của quốc gia này bao gồm Đường bộ xuyên Mỹ (Pan American Highway) và Đường bộ liên đại dương (Interoceanic Highway). Tính đến năm 2016, quốc gia này có 827 km (514 mi) đường cao tốc hai làn xe và đang tiếp tục đầu tư mở rộng với mục tiêu đạt 2.634 km (1.637 mi) vào năm 2026.[124] Ngược lại, mạng lưới đường sắt của Peru khá nhỏ hẹp: năm 2018, cả nước chỉ có 1.939 km (1.205 mi) đường sắt.[125]
Peru sở hữu các sân bay quốc tế quan trọng như sân bay tại Lima, Cuzco và Arequipa. Năm 2017, trong danh sách 10 sân bay bận rộn nhất Nam Mỹ có tên Lima (Peru), bên cạnh các sân bay lớn khác như São Paulo-Guarulhos (Brazil), Bogotá (Colombia) và Santiago (Chile).[126] Hiện tại, nhiều dự án mở rộng sân bay đang được triển khai trên khắp Peru, tiêu biểu là Sân bay quốc tế Jorge Chávez và Sân bay quốc tế Chinchero. Sân bay Jorge Chávez, lớn nhất Peru, đang được nâng cấp với đường băng mới, tháp điều khiển và nhà ga mới, cùng hệ thống khách sạn và khu hậu cần, tạo nên một "Thành phố Sân bay" (Ciudad Aeropuerto). Dự kiến hoàn thành vào tháng 12 năm 2024, công trình này sẽ cho phép phục vụ 40 triệu hành khách mỗi năm. Một dự án đầy tham vọng khác là Sân bay quốc tế Chinchero tại Cusco, nhằm thay thế sân bay cũ Alejandro Velasco Astete, giúp du khách có thể bay thẳng quốc tế mà không cần quá cảnh tại Lima.

Peru có các cảng biển quan trọng tại Callao, Ilo và Matarani. Năm 2018, Callao (Peru) nằm trong danh sách 15 cảng biển hoạt động mạnh nhất Nam Mỹ.[127] Cảng Callao hiện là cảng lớn nhất Peru, nhưng vị trí này sớm muộn sẽ thuộc về Cảng Chancay, một dự án liên doanh giữa Trung Quốc và Peru tại Chancay, phía bắc Lima. Khi hoàn thành, đây sẽ là cảng biển lớn nhất Mỹ Latinh.[128] Được khánh thành chính thức vào ngày 14 tháng 11 năm 2024, Cảng Chancay đóng vai trò là cửa ngõ then chốt cho giao thương giữa Nam Mỹ và châu Á, giúp giảm đáng kể thời gian vận chuyển xuyên Thái Bình Dương.[129]
Năng lượng
[sửa | sửa mã nguồn]
Ngành điện lực của Peru đã có những cải thiện đáng kể trong những năm gần đây. Tỷ lệ hộ gia đình có điện thắp sáng tăng từ 82% năm 2007 lên 94,2% vào năm 2016, đồng thời chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ cũng được nâng cao. Công suất phát điện hiện tại được chia đều giữa các nguồn nhiệt điện và thủy điện. Hệ thống Điện Liên kết Quốc gia cung cấp cho 85% dân số, phần còn lại của đất nước được bao phủ bởi một số hệ thống độc lập. Tổng sản lượng điện của Peru đạt 5,1 TWh vào tháng 10 năm 2022. Trong đó, 52% đến từ các nhà máy thủy điện, 38,3% từ các nhà máy nhiệt điện (sử dụng dầu, khí đốt và than đá) và 9,7% từ các nhà máy năng lượng tái tạo như: điện gió, điện mặt trời và các nguồn khác.[130]
Năm 2021, về công suất điện tái tạo đã lắp đặt, Peru sở hữu 5.490 MW thủy điện (đứng thứ 34 thế giới), 409 MW điện gió (thứ 49 thế giới), 336 MW điện mặt trời (thứ 62 thế giới) và 185 MW điện sinh khối.[131]
Nhân khẩu
[sửa | sửa mã nguồn]
Với dân số 33.396.698 người theo ước tính và dự báo của Viện Thống kê và Tin học Quốc gia tính đến năm 2022, Peru là quốc gia đông dân thứ tư tại Nam Mỹ.[132] Mật độ dân số đạt 25,79 người trên kilômét vuông (66,8/sq mi)[chuyển đổi: số không hợp lệ] và tỷ lệ tăng trưởng hàng năm là 1,1%. Khoảng 58,8% dân số Peru sống ở vùng duyên hải, 27% ở vùng núi và 14,2% ở vùng rừng rậm. Vào năm 2020, 27 triệu người Peru sống ở các khu vực thành thị, chiếm 80% tổng dân số. Năm 1940, dân số Peru mới chỉ ở mức 7 triệu người; trong giai đoạn từ 1950 đến 2000, tỷ lệ tăng trưởng nhân khẩu học đã giảm từ 2,6% xuống 1,6%, và dân số dự kiến sẽ đạt khoảng 42 triệu người vào năm 2050.[133][134]
Tính đến năm 2017[cập nhật], 79,3% dân số sống ở thành thị và 20,7% ở nông thôn.[135] Các thành phố lớn bao gồm Vùng đô thị Lima (nơi sinh sống của hơn 9,8 triệu người), Arequipa, Trujillo, Chiclayo, Piura, Iquitos, Cusco, Chimbote, và Huancayo; tất cả đều có hơn 250.000 cư dân theo cuộc tổng điều tra dân số năm 2007.[136] Arequipa là thành phố lớn thứ hai của Peru với dân số ước tính là 1.177.000 người, trong khi Trujillo lớn thứ ba với 1.048.000 người. Ngoài ra, có 15 bộ lạc Amerindian chưa được tiếp xúc được biết đến tại Peru.[137] Theo dữ liệu mới nhất năm 2016 của Ngân hàng Thế giới, Peru có tuổi thọ trung bình là 75,0 tuổi (72,4 đối với nam và 77,7 đối với nữ).[138]
Dân số hoạt động kinh tế tương đương 53,78% tổng dân số, tức khoảng 17.830.500 người. Các thành phố lớn nhất tập trung ở vùng duyên hải như Sullana, Piura, Chiclayo, Trujillo, Chimbote, Lima và Ica. Ở vùng núi, nổi bật là các thành phố Arequipa, Cusco, Huancayo, Cajamarca và Juliaca. Cuối cùng, tại vùng rừng rậm, Iquitos là thành phố quan trọng nhất, tiếp theo là Pucallpa, Tarapoto, Moyobamba và Tingo María.
20 thành phố hoặc thị xã lớn nhất tại Peru
Viện Thống kê và Tin học Quốc gia - INEI (Ước tính 2025)[139] | |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng | Vùng | Dân số | Hạng | Vùng | Dân số | ||||
| 1 | Lima | Lima | 10.353,700 (Dân số đô thị) | 11 | Ica | Ica | 369,500 | ||
| 2 | Arequipa | Arequipa | 1,195,200 (Dân số đô thị) | 12 | Juliaca | Puno | 347,800 | ||
| 3 | Trujillo | La Libertad | 1,063,700 (Dân số đô thị) | 13 | Tacna | Tacna | 332,400 | ||
| 4 | Chiclayo | Lambayeque | 618,600 (Dân số đô thị) | 14 | Ayacucho | Ayacucho | 266,800 | ||
| 5 | Piura | Piura | 598,200 | 15 | Cajamarca | Cajamarca | 259,400 | ||
| 6 | Huancayo | Junín | 571,000 | 16 | Huánuco | Huánuco | 246,300 | ||
| 7 | Cusco | Cusco | 497,200 | 17 | Chincha Alta | Ica | 226,200 | ||
| 8 | Iquitos | Loreto | 461,500 | 18 | Sullana | Piura | 210,500 | ||
| 9 | Pucallpa | Ucayali | 437,600 | 19 | Huacho | Lima | 195,600 | ||
| 10 | Chimbote | Ancash | 413,800 | 20 | Tarapoto | San Martín | 182,300 | ||
Các nhóm sắc tộc
[sửa | sửa mã nguồn]- Người lai (Mestizo) (60,2%)
- Thổ dân (25,8%)
- Người da trắng (5,89%)
- Người da đen (3,57%)
- Người Đông Á (0,16%)
- Khác (4,42%)
Peru là một quốc gia đa sắc tộc được hình thành bởi các làn sóng di cư của nhiều nhóm dân tộc khác nhau trong suốt năm thế kỷ. Người Amerindian đã sinh sống trên lãnh thổ Peru hàng thiên niên kỷ trước khi người Tây Ban Nha xâm chiếm vùng đất này vào thế kỷ 16; theo nhà sử học Noble David Cook, dân số của họ đã giảm từ gần 5–9 triệu người vào những năm 1520 xuống còn khoảng 600.000 người vào năm 1620, chủ yếu do các bệnh truyền nhiễm.[141]
Cuộc điều tra dân số năm 2017 lần đầu tiên đưa vào câu hỏi về việc tự nhận dạng sắc tộc. Theo kết quả, 60,2% người dân tự nhận mình là người lai (Mestizo), 22,3% là Người Quechua, 5,9% là người da trắng, 3,6% là người da đen, 2,4% là Người Aymara, 2,3% thuộc các nhóm dân tộc khác và 3,3% không khai báo sắc tộc.[142] Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau của Peru, thành phần sắc tộc đã có sự thay đổi với tỷ lệ người Amerindian giảm liên tục do nhiều yếu tố kinh tế xã hội, văn hóa, kiểm soát sinh sản, tỷ lệ tử vong cao và sự loại trừ xã hội. Từ thời thuộc địa đến nay, các nhóm sắc tộc tại Peru dần hòa nhập và kết hôn chéo với nhau, tạo nên một cộng đồng người lai chiếm đa số. Tuy nhiên, điều này lại nảy sinh một nghịch lý: nhiều người lai tự coi mình là tầng lớp 'cao cấp' hơn so với những thổ dân ở vùng núi hay rừng sâu. Họ phân biệt đối xử với người bản địa chỉ vì những lý do như giọng nói địa phương hoặc trình độ học vấn thấp, tạo nên một hình thái phân biệt chủng tộc âm thầm trong xã hội.
Trong thời kỳ Phó vương quốc Peru, người Tây Ban Nha và người châu Phi đã đến với số lượng lớn, hòa huyết rộng rãi với nhau và với quần thể bản địa, chủ yếu ở vùng duyên hải (vùng núi và rừng rậm vẫn duy trì đa số thổ dân ít bị pha trộn). Sau khi độc lập, đã có các làn sóng nhập cư từ châu Âu như Tây Ban Nha, Ý, Anh, Pháp, Đức, cùng với Trung Đông.[143] Peru đã giải phóng nô lệ da đen vào năm 1854.[144] Người Trung Quốc và Nhật Bản đến vào những năm 1850 dưới dạng lao động sau khi chế độ nô lệ kết thúc, và từ đó đã trở thành một thành phần có ảnh hưởng lớn trong xã hội Peru.[145] Những người nhập cư Croatia đầu tiên đến Peru từ Dubrovnik vào năm 1573.[146]

Di cư và nhập cư
[sửa | sửa mã nguồn]Trong những thập kỷ gần đây, số liệu về người Peru di cư ra nước ngoài đã cho thấy sự tăng trưởng rõ rệt; hiện nay có hơn 10% người dân Peru đang cư trú ngoài lãnh thổ quốc gia. Phong trào di cư này trở nên mạnh mẽ hơn kể từ năm 2000. Theo số liệu chính thức, đã có 3.505.511 người Peru di cư ra nước ngoài trong giai đoạn từ năm 1994 đến 2024.[147] Con số này chưa bao gồm thế hệ con cháu của họ và lượng dân số trôi nổi bất hợp pháp, chủ yếu tập trung tại các quốc gia láng giềng. Về các điểm đến chính của người Peru di cư từ năm 1994 đến 2023, dẫn đầu là: Hoa Kỳ (30,4%), Tây Ban Nha (16,1%), Argentina (12,9%), Chile (11,6%), Ý (10,3%), Nhật Bản (3,6%) và Canada (1,9%).[148] Khoảng 75% người di cư Peru nằm trong độ tuổi từ 15 đến 49, với tỷ lệ nữ giới nhỉnh hơn một chút. Phần lớn hoạt động di cư của người Peru là di cư lao động.[149]
Xuyên suốt lịch sử, Peru đã tiếp nhận các làn sóng nhập cư từ châu Âu (chủ yếu là Tây Ban Nha và Ý; một số lượng ít hơn từ Pháp, Vương quốc Anh và các quốc gia Trung và Nam Âu khác), châu Phi cận Sahara và Đông Á (Trung Quốc và Nhật Bản). Hiện nay, Peru đang tiếp nhận một lượng lớn người nhập cư từ Venezuela, những người đang chạy trốn khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế tại quê nhà.[150]
Từ năm 2016, dòng người Venezuela đổ vào Peru tăng mạnh, từ 6.615 cư dân trong năm đó lên tới khoảng 820.000 người vào giữa tháng 6 năm 2019, trở thành làn sóng di cư quan trọng nhất thế kỷ 21 tại quốc gia này. Peru hiện là nơi tiếp nhận lượng người nhập cư Venezuela lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Colombia.[151]
Ngôn ngữ
[sửa | sửa mã nguồn]
Theo Hiến pháp Peru năm 1993, các ngôn ngữ chính thức của đất nước là tiếng Tây Ban Nha, cùng với tiếng Quechua và các ngôn ngữ bản địa khác tại những vùng mà chúng chiếm ưu thế. Tiếng Tây Ban Nha là tiếng mẹ đẻ của 82,6% dân số và cùng tồn tại với nhiều ngôn ngữ bản địa. Trong số các ngôn ngữ bản địa, quan trọng nhất là nhóm tiếng Quechua được 16,92% dân số sử dụng, tiếp theo là tiếng Aymara với 1,7% và 0,8% sử dụng các ngôn ngữ bản địa khác. Tại các khu vực đô thị, đặc biệt là vùng duyên hải, tình trạng đơn ngữ tiếng Tây Ban Nha chiếm ưu thế; trong khi đó, tại nhiều vùng nông thôn, đặc biệt là vùng Amazon, các cộng đồng đa ngữ lại chiếm đa số.[152]
Tiếng Tây Ban Nha được chính phủ sử dụng và là ngôn ngữ chính của đất nước, xuất hiện phổ biến trên các phương tiện truyền thông, hệ thống giáo dục và trong thương mại. Các cộng đồng Amerindian sống ở vùng cao nguyên Andes nói tiếng Quechua và Aymara; họ có sự khác biệt về mặt sắc tộc so với các nhóm bản địa đa dạng sống ở phía đông dãy Andes và tại các vùng đất thấp nhiệt đới giáp với Lưu vực sông Amazon.[153]
Sự phân chia địa lý đặc trưng của Peru cũng phản ánh sự phân hóa về ngôn ngữ: vùng duyên hải là nơi tiếng Tây Ban Nha chiếm ưu thế hơn hẳn so với các ngôn ngữ bản địa, đối lập với văn hóa truyền thống Andes đa dạng ở vùng núi và cao nguyên. Các quần thể bản địa phía đông dãy Andes nói nhiều ngôn ngữ và phương ngữ khác nhau. Một số nhóm vẫn duy trì các ngôn ngữ bản địa truyền thống, trong khi những nhóm khác gần như đã bị đồng hóa hoàn toàn vào tiếng Tây Ban Nha. Hiện nay, đang có những nỗ lực ngày càng tăng và có tổ chức nhằm giảng dạy tiếng Quechua tại các trường công lập ở những vùng sử dụng ngôn ngữ này. Tại vùng Amazon của Peru, vô số ngôn ngữ bản địa khác vẫn đang được sử dụng, bao gồm tiếng Asháninka, tiếng Bora và tiếng Aguaruna.[153]
Tôn giáo
[sửa | sửa mã nguồn]
Công giáo Roma đã là đức tin chiếm ưu thế tại Peru trong nhiều thế kỷ, mặc dù các thực hành tôn giáo có mức độ dung hợp cao với các truyền thống bản địa.[154] Hai trong số các trường đại học của giáo hội là Đại học Công giáo Giáo hoàng Peru và Đại học Công giáo San Pablo đều nằm trong nhóm 5 trường đại học hàng đầu đất nước.[155] Theo cuộc điều tra dân số năm 2017, 76% dân số trên 12 tuổi tự nhận mình là người Công giáo; 14,1% là người Tin Lành Phúc âm; 4,8% thuộc các nhóm Tin Lành khác, Do Thái giáo, Mặc môn và Nhân chứng Giê-hô-va; và 5,1% là người không tôn giáo.[156] Vào năm 2025, công dân Peru nhập tịch là Hồng y Robert Francis Prevost đã trở thành Giáo hoàng Lêô XIV.[157]
Các truyền thống tôn giáo Amerindian (thổ dân Mỹ) tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong niềm tin của người dân Peru. Những ngày lễ Công giáo như Lễ Corpus Christi, Tuần Thánh và Giáng sinh đôi khi được kết hợp với các nghi lễ bản địa. Các lễ hội của người Amerindian thời tiền Colombo vẫn còn phổ biến; tiêu biểu như Inti Raymi, một lễ hội cổ xưa của người Inca vẫn được tổ chức rộng rãi, đặc biệt là trong các cộng đồng nông thôn.[158]
Đa số các thị trấn, thành phố và làng mạc đều có nhà thờ hoặc thánh đường chính thức cùng Thánh bổn mạng riêng. Hai vị thánh của Peru là Rôsa thành Lima – vị thánh đầu tiên của châu Mỹ – và Martin de Porres. Thánh đường lớn nhất Peru là Nhà thờ chính tòa Lima. Việc xây dựng nhà thờ này bắt đầu từ năm 1535 dưới thời Francisco Pizarro và hoàn thành vào năm 1797.[159] Các công trình tôn giáo đáng chú ý khác bao gồm Nhà thờ chính tòa Cusco, Vương cung thánh đường Thánh đường Arequipa và Vương cung thánh đường Thánh Đa Minh, Lima.
Giáo dục
[sửa | sửa mã nguồn]
Tại Peru, giáo dục thuộc thẩm quyền của Bộ Giáo dục, cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, thực thi và giám sát chính sách giáo dục quốc gia. Theo Hiến pháp, giáo dục là bắt buộc và miễn phí tại các trường công lập cho các cấp mầm non, tiểu học và trung học.[160][161] Giáo dục cũng được miễn phí tại các trường đại học công lập đối với những sinh viên có kết quả học tập đạt yêu cầu và vượt qua kỳ thi tuyển sinh. Phần lớn các trường học tại Peru là trường tư và trường của các tổ chức tôn giáo. Tỷ lệ biết chữ của Peru ước tính đạt 92,9% vào năm 2007; tỷ lệ này ở khu vực nông thôn (80,3%) thấp hơn so với khu vực thành thị (96,3%).[162]
Peru là nơi tọa lạc của một trong những cơ sở học thuật bậc cao lâu đời nhất tại Tân Thế giới. Đại học Quốc gia San Marcos, được thành lập vào ngày 12 tháng 5 năm 1551 trong thời kỳ Phó vương quốc Peru, là trường đại học đầu tiên được thành lập chính thức và là trường đại học hoạt động liên tục lâu đời nhất ở châu Mỹ.[163] Đại học San Marcos được biết đến là trường đại học tốt nhất tại Peru và nằm trong số những trường hàng đầu Nam Mỹ.
Y tế
[sửa | sửa mã nguồn]Theo Tổ chức Y tế liên Mỹ, tuổi thọ trung bình của nam giới Peru là 72,6 tuổi, trong khi của phụ nữ là 77,9 tuổi. Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh là 18 trên 1.000 ca sinh, tỷ lệ này đã giảm 76% trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2011.[164] Các nguyên nhân gây tử vong chính của người dân Peru bao gồm khối u (tân sinh), cúm và viêm phổi, các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh tim thiếu máu cục bộ và các bệnh mạch máu não. Theo cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2017, 75,5% dân số có một loại hình bảo hiểm y tế nào đó (tương đương 22.173.663 người); dù vậy, vẫn còn 24,5% dân số chưa có bất kỳ loại bảo hiểm nào.[165]
Văn hóa
[sửa | sửa mã nguồn]
Văn hóa Perú chủ yếu bắt nguồn từ truyền thống của người da đỏ và người Tây Ban Nha,[166] tuy nhiên nó cũng chịu ảnh hưởng từ các dân tộc Á, Phi, và Âu khác. Truyền thống nghệ thuật của Perú có truy nguyên từ những đồ gốm, đồ dệt may, trang sức, và công trình điêu khắc của văn hóa tiền Inca. Người Inca duy trì các nghề thủ công này và đạt được những thành tựu về kiến trúc như xây dựng Machu Picchu. Baroque chi phối nghệ thuật Perú thuộc địa, song cũng có cải biến theo truyền thống bản địa.[167]
Trong giai đoạn thuộc địa, nghệ thuật hầu hết tập trung vào chủ đề tôn giáo; biểu hiện là số lượng nhà thờ đông đảo trong thời kỳ này và các bức họa của trường phái Cuzco.[168] Nghệ thuật đình đốn sau khi độc lập, kéo dài cho đến khi ý thức hệ Indigenismo nổi lên vào đầu thế kỷ XX.[169] Từ thập niên 1950, nghệ thuật Perú được chiết trung hóa và định hình bởi cả dòng chảy nghệ thuật ngoại quốc và địa phương.[170]
Văn chương Perú bắt nguồn từ truyền thống truyền khẩu của các nền văn minh thời kỳ tiền Colombo. Người Tây Ban Nha đem đến chữ viết vào thế kỷ XVI; văn chương thuộc địa bao gồm các biên niên sử và văn chương tôn giáo. Sau khi độc lập, chủ nghĩa phong tục và chủ nghĩa lãng mạn trở thành những thể loại văn học phổ biến nhất, minh chứng qua các tác phẩm của Ricardo Palma.[171] Phong trào Indigenismo vào đầu thế kỷ XX do các nhà văn như Ciro Alegría[172] và José María Arguedas lãnh đạo.[173] Văn chương Perú hiện đại được thừa nhận là nhờ vào các tác gia như Mario Vargas Llosa, ông là một thành viên quan trọng của phong trào Mỹ Latinh bùng nổ.[174]
Ẩm thực Perú pha trộn giữa các món ăn da đỏ và Tây Ban Nha, với ảnh hưởng mạnh của cách nấu ăn kiểu Trung Hoa, châu Phi, Ả Rập, Ý, và Nhật Bản.[175] Các món ăn phổ biến là anticuchos, ceviche, và pachamanca. Khí hậu đa dạng của Perú tạo diều kiện cho sự phát triển của các loại thực vật và động vật khác nhau, là một điều tốt cho ẩm thực.[176]
Âm nhạc Perú có nguồn gốc Andes, Tây Ban Nha và châu Phi.[177] Vào thời kỳ tiền Tây Ban Nha, biểu hiện âm nhạc có sự khác biệt lớn giữa các vùng; quena và tinya là hai nhạc cụ phổ biến.[178] Người Tây Ban Nha đưa đến nhiều nhạc cụ mới, chẳng hạt như ghi-ta và hạc, kéo theo sự phát triển của các nhạc cụ tạp giao như charango.[179] Đóng góp của người gốc Phi cho âm nhạc Perú gồm các nhịp điệu của họ và cajón, một nhạc cụ gõ.[180] Vũ đạo dân gian Perú gồm có marinera, tondero, zamacueca, diablada và huayno.[181]
Thể thao
[sửa | sửa mã nguồn]
Khái niệm về thể thao tại Peru bắt nguồn từ khi người Tây Ban Nha đến vào thế kỷ 16, mặc dù nhiều trò chơi và hình thức giải trí bản địa khác đã tồn tại từ trước thời kỳ thuộc địa. Gần đây hơn, tư tưởng giáo dục thể chất gắn liền với thương mại hóa của Mỹ đã có sức hấp dẫn rộng rãi. Thể thao trong nước được chia thành nhiều liên đoàn thể thao (mỗi liên đoàn cho một môn cụ thể) dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước cao nhất là Viện Thể thao Peru (IPD). Hầu hết các liên đoàn thể thao đều có trụ sở tại Khu phức hợp Thể thao Quốc gia (Villa Deportiva Nacional) ở Lima. Sân vận động lớn nhất Peru là Sân vận động Monumental "U" với sức chứa hơn 80.000 người, là sân vận động lớn thứ hai tại Nam Mỹ. Sân vận động quốc gia của đất nước là Estadio Nacional. Peru đã đăng cai nhiều sự kiện thể thao lớn như Copa América 2004, Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới 2005, Đại hội Thể thao Bolivar các năm 2013 và 2024, và sự kiện thể thao lớn nhất từng được tổ chức tại đây là Đại hội Thể thao toàn châu Mỹ 2019 (Pan American Games). Môn thể thao quốc gia của Peru là Paleta frontón, được phát triển vào thế kỷ 16 tại Lima.
Bóng đá là môn thể thao phổ biến và được chơi rộng rãi nhất cả nước. Giải bóng đá vô địch quốc gia Peru là giải đấu cấp câu lạc bộ quan trọng nhất. Đội tuyển bóng đá nam Peru đã có một số màn trình diễn quan trọng trên đấu trường thế giới, từng 5 lần tham dự FIFA World Cup. Ngoài ra, họ đã có hai lần vô địch Copa América vào các năm 1939 và 1975, đồng thời gây ấn tượng tại Thế vận hội Mùa hè 1936 trước khi phải về nước sớm do rút lui khỏi trận đấu lại với Áo ở vòng tứ kết. Teófilo Cubillas được coi là cầu thủ bóng đá vĩ đại nhất của Peru. Ở cấp độ câu lạc bộ, Universitario nổi bật với danh hiệu á quân Copa Libertadores năm 1972 và Sporting Cristal cũng giành ngôi á quân giải đấu này vào năm 1997. Các câu lạc bộ Peru duy nhất có danh hiệu quốc tế là Cienciano, đội đã giành chức vô địch Copa Sudamericana 2003 và Recopa Sudamericana 2004, và Universitario với chức vô địch U-20 Copa Libertadores 2011.
Các môn thể thao phổ biến khác tại Peru là bóng chuyền, lướt sóng và karate. Peru đã giành được nhiều huy chương vàng, bạc và đồng tại Đại hội Thể thao toàn châu Mỹ. Đội tuyển bóng chuyền nữ quốc gia Peru từng là một trong những đội thống trị trong những năm 1980 và 1990, họ đã giành huy chương bạc tại Thế vận hội Mùa hè 1988, để thua Liên Xô với tỷ số 3–2 sau khi đã dẫn trước với khoảng cách lớn. Peru thường có thế mạnh truyền thống ở các môn lướt sóng và bóng chuyền.
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Ở Perú, có những ngôn ngữ được chính thức công nhận là ngôn ngữ bản địa. Trong mỗi tiếng này, tên chính thức của Perú (tiếng Tây Ban Nha: República del Perú, phát âm: [reˈpuβlika ðel peˈɾu]) là như sau:
- tiếng Quechua: Piruw Republika
- tiếng Aymara: Piruw Suyu
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ "Ethnic groups of Perú". CIA Factbook. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
- ^ Shugart, Matthew Søberg (tháng 9 năm 2005). "Semi-Presidential Systems: Dual Executive and Mixed Authority Patterns" (PDF). Graduate School of International Relations and Pacific Studies. United States: University of California, San Diego. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2017.
{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: postscript (liên kết) - ^ Shugart, Matthew Søberg (tháng 12 năm 2005). "Semi-Presidential Systems: Dual Executive And Mixed Authority Patterns" (PDF). French Politics. Quyển 3 số 3. Palgrave Macmillan UK. tr. 323–351. doi:10.1057/palgrave.fp.8200087. ISSN 1476-3427. OCLC 6895745903. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2017.
Only in Latin America have all new democracies retained a pure presidential form, except for Peru (president-parliamentary) and Bolivia (assembly-independent).
{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: postscript (liên kết) - ^ https://www.populationpyramid.net/peru/2018/.
{{Chú thích web}}:|title=trống hay bị thiếu (trợ giúp) - ^ "World Economic Outlook Database , October 2025: Edition (Peru)" (bằng tiếng Anh). October 14, 2025.
- ^ "World Economic Outlook Database , October 2025: Edition (Peru)" (bằng tiếng Anh). October 14, 2025.
- ^ "World Economic Outlook Database , October 2025: Edition (Peru)" (bằng tiếng Anh). October 14, 2025.
- ^ "World Economic Outlook Database , October 2025: Edition (Peru)" (bằng tiếng Anh). October 14, 2025.
- ^ "Gini Index". World Bank. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2024.
- ^ "Human Development Report 2023/24" (bằng tiếng Anh). United Nations Development Programme. ngày 13 tháng 3 năm 2024. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2024.
- ^ UN: Peru Posts One of Region’s Best Reductions in Poverty in 2011 Lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2016 tại Wayback Machine. Andean Air Mail and Peruvian Times, 28 tháng 11 năm 2012.
- ^ Porras Barrenechea, tr 83.
- ^ Porras Barrenechea, tr 84.
- ^ Porras Barrenechea, tr 86.
- ^ Porras Barrenechea, tr 87.
- ^ Andes Handbook, Huascarán Lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2016 tại Wayback Machine. 2 tháng 6 năm 2002.
- ^ Instituto de Estudios Histórico–Marítimos del Perú, El Perú y sus recursos: Atlas geográfico y económico, tr. 16.
- ^ Instituto de Estudios Histórico–Marítimos del Perú, El Perú y sus recursos: Atlas geográfico y económico, tr 31.
- ^ Instituto Nacional de Estadística e Informática, Perú: Compendio Estadístico 2005, tr. 21.
- ^ Instituto de Estudios Histórico–Marítimos del Perú, El Perú y sus recursos: Atlas geográfico y económico, tr. 24–25.
- ^ Instituto de Estudios Histórico–Marítimos del Perú, El Perú y sus recursos: Atlas geográfico y económico, tr. 25–26.
- ^ Instituto de Estudios Histórico–Marítimos del Perú, El Perú y sus recursos: Atlas geográfico y económico, tr. 26–27.
- ^ Instituto Nacional de Estadística e Informática, Perú: Compendio Estadístico 2005, tr 50.
- ^ Dillehay, Tom, Duccio Bonavia and Peter Kaulicke. "The first settlers". In Helaine Silverman (ed.), Andean archaeology. Malden: Blackwell, 2004, ISBN 0631234012, p. 20.
- ^ Haas, Jonathan, Creamer, Winifred and Ruiz, Alvaro (2004). "Dating the Late Archaic occupation of the Norte Chico region in Peru". Nature. Quyển 432. tr. 1020–1023. doi:10.1038/nature03146. ISSN 0028-0836. PMID 15616561.
{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) - ^ D'Altroy, Terence. The Incas. Malden: Blackwell, 2002, ISBN 1405116765, các trang 2–3.
- ^ Mayer, Enrique. The articulated peasant: household economies in the Andes. Boulder: Westview, 2002, ISBN 081333716X, các trang 47–68
- ^ Recopilación de leyes de los Reynos de las Indias. Madrid: Cultura Hispánica, 1973, vol. II, các trang 12–13.
- ^ Bakewell, Peter. Miners of the Red Mountain: Indian labor in Potosi 1545–1650. Albuquerque: University of New Mexico, 1984, ISBN 0826307698, p. 181.
- ^ (bằng tiếng Tây Ban Nha) Suárez, Margarita. Desafíos transatlánticos. Lima: FCE/IFEA/PUCP, 2001, các trang 252–253.
- ^ Andrien, Kenneth. Crisis and decline: the Viceroyalty of Peru in the seventeenth century. Albuquerque: University of New Mexico Press, 1985, ISBN 1597403237, các trang 200–202.
- ^ Burkholder, Mark. From impotence to authority: the Spanish Crown and the American audiencias, 1687–1808. Columbia: University of Missouri Press, 1977, ISBN 0826202195, các trang 83–87.
- ^ O'Phelan, Scarlett. Rebellions and revolts in eighteenth century Peru and Upper Peru. Cologne: Böhlau, 1985, ISBN 3412010855, 9783412010850, p. 276.
- ^ Anna, Timothy. The fall of the royal government in Peru. Lincoln: University of Nebraska Press, 1979, ISBN 0803210043, các trang 237–238.
- ^ Walker, Charles. Smoldering ashes: Cuzco and the creation of Republican Peru, 1780–1840. Durham: Duke University Press, 1999, ISBN 0822382164, các trang 124–125.
- ^ Gootenberg (1991) tr 12.
- ^ Gootenberg (1993) tr 5–6.
- ^ Gootenberg (1993) tr 9.
- ^ Mücke, Ulrich. Political culture in nineteenth-century Peru. Pittsburgh: University of Pittsburgh Press, 2004, ISBN 0822942291, các trang 193–194.
- ^ Klarén, tr 262–276.
- ^ Palmer, David. Peru: the authoritarian tradition. New York: Praeger, 1980, ISBN 0030461162, p. 93
- ^ Philip, George. The rise and fall of the Peruvian military radicals. London: University of London, 1978, các trang 163–165.
- ^ Schydlowsky, Daniel and Juan Julio Wicht. "Anatomy of an economic failure". In Cynthia McClintock and Abraham Lowenthal (ed.), The Peruvian experiment reconsidered. Princeton: Princeton University Press, 1983, ISBN 0691076480, các trang 94–143 (106–107).
- ^ Klarén, tr 406–407.
- ^ BBC News, Fujimori: Decline and fall. Truy cập 21 tháng 7 năm 2007.
- ^ The Economist, Peru. Truy cập 18 tháng 7 năm 2007.
- ^ Mitrovic, Mijail (ngày 30 tháng 12 năm 2021). "At the fabric of history: Peru's political struggle under (and against) the pandemic". Dialectical Anthropology. 45 (4): 431–446. doi:10.1007/s10624-021-09634-5. PMC 8716181. PMID 34980936.
- ^ "Peruvian Congress votes to impeach President Martín Vizcarra". BBC News. ngày 10 tháng 11 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2021.
- ^ "Peru's President Merino resigns after deadly crackdown on protesters". BBC News. ngày 16 tháng 11 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2021.
- ^ "Francisco Sagasti sworn in as interim Peruvian leader". BBC News. ngày 18 tháng 11 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2021.
- ^ "Pedro Castillo declared president-elect of Peru". BBC News. ngày 20 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2021.
- ^ "Peru: Pedro Castillo sworn in as president". DW.com. ngày 28 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2021.
- ^ "The bicentennial of Peru's independence: A historic opportunity". The Jakarta Post (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2022.
- ^ "Peru's President Accused of Coup After Move to Dissolve Congress". Bloomberg.com (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 12 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2022.
- ^ "Peru's President Pedro Castillo replaced by Dina Boluarte after impeachment". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 12 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2022.
- ^ "Peru president removed from office and charged with 'rebellion' after alleged coup attempt". The Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 12 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2022.
- ^ a b c Banda, Gonzalo (ngày 12 tháng 1 năm 2023). "At Peru Protests' Epicenter, Rage—And a Sense of Betrayal". Americas Quarterly (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2023.
- ^ a b "Daniel Encinas: "Dina Boluarte ha hecho una coalición con fuerzas que no ganaron la elección"". La Republica (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 2 tháng 1 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2023.
- ^ "Perú Libre presentará moción de interpelación contra ministro del Interior". La Republica (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 4 tháng 1 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2023.
- ^ Yeung, Mauricio Torres, Jessie (ngày 10 tháng 10 năm 2025). "Peru's president is removed from office after string of scandals". CNN (bằng tiếng Anh).
{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) - ^ Riva, Giulia (ngày 19 tháng 2 năm 2026). "Il Perù ha un nuovo presidente ad interim". Il Sole 24 ORE (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
- ^ Clark, Jeffrey. Building on quicksand. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2007.
- ^ (bằng tiếng Tây Ban Nha) Oficina Nacional de Procesos Electorales, [1]. Truy cập 28 tháng 7 năm 2011.
- ^ (bằng tiếng Tây Ban Nha) Congreso de la República del Perú, [2] Lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2019 tại Wayback Machine. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2011.
- ^ a b St John, Ronald Bruce. The foreign policy of Peru. Boulder: Lynne Rienner, 1992, ISBN 1555873049, các trang 223–224.
- ^ BBC News, Peru–Chile border row escalates. Truy cập 16 tháng 5 năm 2007.
- ^ Ministerio de Defensa. Libro Blanco de la Defensa Nacional. Lima: Ministerio de Defensa, 2005, p. 90.
- ^ Ley N° 27178, Ley del Servicio Militar, Các điều số 29, 42 và 45.
- ^ Monika Huber, Wolfgang Kaiser (tháng 2 năm 2013). "Mixed Feelings". dandc.eu.
- ^ Costa, Eduardo Ferrero (1987). "Peruvian Foreign Policy: Current Trends, Constraints and Opportunities". Journal of Interamerican Studies and World Affairs. 29 (2): 55–78. doi:10.2307/166073. ISSN 0022-1937. JSTOR 166073.
- ^ Lincoln, Jennie K.; Ferris, Elizabeth G. (2019). The Dynamics Of Latin American Foreign Policies: Challenges For The 1980s (bằng tiếng Anh). Routledge. ISBN 978-1-000-31605-6. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2020.
- ^ Blanco-Jiménez, Mónica; Parra-Irineo, Georgina; González-González, Nayra; Tavizon-Salazar, Arturo (2019). "Pacific Alliance: Political, Economic, and Commercial Implications". Regional Integration in Latin America. tr. 1–12. doi:10.1108/978-1-78973-159-020191001. ISBN 978-1-78973-160-6.
- ^ Alonso Morán de Romaña (ngày 25 tháng 1 năm 2018). "Productivity provides the key to Peru's bid for OECD membership". LSE Latin America and Caribbean. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2020.
- ^ "Peru's OECD member status bid likely to succeed". andina.pe (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 2 tháng 7 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2020.
- ^ "The treaties of free trade (FTA) and exports of aggro-industrial products in Peru". Socrates. 7 (1 and 2). 2019. ISSN 2347-2146. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020.
- ^ Shaffer, Gregory; Winters, L. Alan (tháng 4 năm 2017). "FTA Law in WTO Dispute Settlement: Peru–Additional Duty and the Fragmentation of Trade Law". World Trade Review (bằng tiếng Anh). 16 (2): 303–326. doi:10.1017/S1474745616000550. ISSN 1474-7456.
- ^ BBC News (4 November 2005), Peru–Chile border row escalates . Retrieved 16 May 2007.
- ^ Global Affairs Canada-Affaires Mondiales Canada (ngày 29 tháng 8 năm 2019). "Lima Group statement". GAC. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2020.
- ^ "2024 Global Peace Index" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2024.
- ^ "Ránking ubica al Perú como la cuarta Fuerza Armada más poderosa de Latinoamérica". RPP (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 29 tháng 7 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2020.
- ^ a b Williams, James L. (1972). "Revolution from Within: Changing Military Perspectives in Peru". Naval War College Review. 25 (2): 43–60. ISSN 0028-1484. JSTOR 44639763.
- ^ "Peru: Wildlife". Select Latin America. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2009.
- ^ Ministerio de Defensa, Libro Blanco de la Defensa Nacional. Ministerio de Defensa, 2005, 90.
- ^ Ley N° 27178, Ley del Servicio Militar, Articles No. 29, 42 and 45.
- ^ Vásquez, George L. (1994). "The Peruvian Army in War and Peace: 1980–1992". Journal of Third World Studies. 11 (2): 100–116. ISSN 8755-3449. JSTOR 45197485.
- ^ Weber, Cynthia (1990). "Representing Debt: Peruvian Presidents Belaunde's and Garcia's Reading/Writing of Peruvian Debt". International Studies Quarterly. 34 (3): 353–365. doi:10.2307/2600575. ISSN 0020-8833. JSTOR 2600575.
- ^ "Military expenditure (% of GDP) – Peru | Data". data.worldbank.org. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2020.
- ^ "Peru calls up 10,000 army reserves to enforce quarantine". Reuters (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020.
- ^ "World Economic Outlook Database, October 2023 Edition. (Peru)". International Monetary Fund. ngày 10 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2023.
- ^ The World Bank, Data by country: Peru Lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2016 tại Wayback Machine. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2011.
- ^ BBC (31 tháng 7 năm 2012), Peru country profile .
- ^ "Peru". Human Development Reports (bằng tiếng Anh). Liên Hợp Quốc. 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2018.
- ^ Thorp, tr. 4.
- ^ Thorp, tr. 321.
- ^ "Overview". Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2018.
- ^ "Peru and the IMF". Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2014.
- ^ Montero, Juan Carlos Pérez (ngày 1 tháng 3 năm 2023). "Perú registró una inflación de 0,43% en febrero de 2023". Finanzas Digital (bằng tiếng Tây Ban Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2023.
- ^ Thorp, tr. 318–319.
- ^ Sheahan, John. Searching for a better society: the Peruvian economy from 1950. University Park, Pennsylvania: The Pennsylvania State University Press, 1999, ISBN 0271018720, p. 157.
- ^ Số liệu năm 2006. Bản mẫu:Es Banco Central de Reserva, Memoria 2006 Lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2016 tại Wayback Machine, tr. 204. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2010.
- ^ Bản mẫu:Es Banco Central de Reserva, Memoria 2006 Lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2016 tại Wayback Machine, tr. 15, 203. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2010.
- ^ Office of the U.S. Trade Representative, United States and Peru Sign Trade Promotion Agreement, 12 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2010.
- ^ Số liệu năm 2006. Bản mẫu:Es Banco Central de Reserva, Memoria 2006 Lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2016 tại Wayback Machine, tr. 60–61. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2010.
- ^ "Capítulo 4 La Informalidad và la Fuerza de Trabajo" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2023.
- ^ a b "PRODUCCIÓN CUPRÍFERA AUMENTÓ UN 12.7% EN 2023 Y EL PERÚ SE MANTIENE COMO EL SEGUNDO MAYOR PRODUCTOR DE COBRE DEL MUNDO". Sociedad de Comercio Exterior del Perú (bằng tiếng Tây Ban Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2024.
- ^ "Copper" (PDF). Mineral Commodity Summaries. USGS. tháng 1 năm 2021. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022.
- ^ "Zinc" (PDF). Mineral Commodity Summaries. USGS. tháng 1 năm 2021. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022.
- ^ "Gold" (PDF). Mineral Commodity Summaries. USGS. tháng 1 năm 2021. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022.
- ^ "Lead" (PDF). Mineral Commodity Summaries. USGS. tháng 1 năm 2021. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2021.
- ^ "Tin" (PDF). Mineral Commodity Summaries. USGS. tháng 1 năm 2021. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2021.
- ^ USGS Boron Production Statistics Lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2021 tại Wayback Machine (PDF)
- ^ USGS Molybdenum Production Statistics Lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2022 tại ghostarchive.org (Lỗi: URL lưu trữ không rõ) (PDF)
- ^ "USGS Silver Production Statistics" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2024.
- ^ "Duas opções: direita ou direita – Le Monde Diplomatique". diplomatique.org.br. ngày 6 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2022.
- ^ "II. SECTOR EXTERNO" (PDF). bcrp.gob.pe (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 31 tháng 12 năm 1990. tr. 32. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2024.
- ^ "Agriculture in Peru, by FAO". Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2022.
- ^ a b "Food crisis deepens in Peru, more than half of the population lacks enough to eat". Atalayar (bằng tiếng Anh). tháng 12 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2023.
- ^ a b "In Peru, half the population lacks food security" (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 1 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2023.
- ^ "Manufacturing, value added (current US$) | Data". data.worldbank.org. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2022.
- ^ "GII Innovation Ecosystems & Data Explorer 2025". WIPO. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.
- ^ Dutta, Soumitra; Lanvin, Bruno (2025). Global Innovation Index 2025: Innovation at a Crossroads (bằng tiếng Anh). Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới. tr. 19. doi:10.34667/tind.58864. ISBN 978-92-805-3797-0. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Peru prepara indústria pesqueira para enfrentar mudança climática". GZH. ngày 12 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2022.
- ^ "Estadística – Infraestructura de Transportes – Infraestructura Vial". www.gob.pe. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2022.
- ^ "Visión de desarrolo de la infraestructura vial" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2022.
- ^ "Estadística – Infraestructura de Transportes – Infraestructura Ferroviaria". www.gob.pe. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2022.
- ^ Andrade, Artur Luiz (ngày 29 tháng 10 năm 2018). "Brasil tem 9 dos maiores aeroportos da América Latina". Portal PANROTAS. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2022.
- ^ "actividad portuaria de América Latina y el Caribe 2018" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2022.
- ^ "With Peru port project, China gains a foothold in America's backyard". NBC News (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 11 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2024.
- ^ Codings. "THE PORT OF CHANCAY AND CHINA'S EVOLVING BRI". orcasia.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2025.
- ^ "Peru Electricity Production, 1978 – 2023 | CEIC Data". www.ceicdata.com. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2023.
- ^ "Renewable Capacity Statistics 2022" (PDF). IRENA. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2022.
- ^ "El Perú tiene una población de 31 millones 488 mil 625 habitantes" [Peru has a population of 31 million 488 thousand 625 inhabitants]. www.inei.gob.pe (bằng tiếng Tây Ban Nha). INEI. ngày 11 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2018.
- ^ Instituto Nacional de Estadística e Informática, Perú: Estimaciones y Proyecciones de Población, 1950–2050, tr. 37–38, 40.
- ^ "First results of the Peruvian population census conducted last year". The Peru Telegraph. ngày 26 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2018.
- ^ "Perú: Perfil Sociodemográfico" (PDF). Instituto Nacional de Estadística e Informática. tr. 16. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2018.
- ^ Instituto Nacional de Estadística e Informática, Perfil sociodemográfico del Perú, tr. 24.
- ^ "Isolated Peru tribe threatened by outsiders. USAToday.com. 31 January 2012
- ^ "Life expectancy at birth, total (years) | Data". data.worldbank.org (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Estado de la Población Peruana 2025. Una mirada hacia la población adulta mayor" (PDF). Instituto Nacional de Estadística e Informática. tr. 22. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2025.
- ^ "2017 Peruvian census" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2018.
- ^ Cook, Noble David (1982) Demographic collapse: Indian Peru, 1520–1620. Cambridge University Press. tr. 114. ISBN 0521239958.
- ^ "Perú: Perfil Sociodemográfico" (PDF). Instituto Nacional de Estadística e Informática. tr. 214. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2018.
- ^ Vázquez, Mario (1970) "Immigration and mestizaje in nineteenth-century Peru", tr. 79–81 trong Race and class in Latin America. Columbia Univ. Press. ISBN 0-231-03295-1
- ^ "Peru apologises for abuse of African-origin citizens ". BBC News. 29 November 2009
- ^ Mörner, Magnus (1967), Race mixture in the history of Latin America, tr. 131.
- ^ "Peru izabrao predsjednicu peruansko-hrvatskog prijateljstva". www.index.hr (bằng tiếng Croatia). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2024.
- ^ "Perú: Estadísticas de la Migración Internacional, al 2024 (Una visión từ hồ sơ hành chính)" (PDF). Instituto Nacional de Estadística e Informática (bằng tiếng Tây Ban Nha). tr. 9. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Perú: Estadísticas de la Migración Internacional, al 2024 (Una visión từ hồ sơ hành chính)" (PDF). Instituto Nacional de Estadística e Informática (bằng tiếng Tây Ban Nha). tr. 18. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Perú: Estadísticas de la Migración Internacional, al 2024 (Una visión từ hồ sơ hành chính)" (PDF). Instituto Nacional de Estadística e Informática (bằng tiếng Tây Ban Nha). tr. 10–12. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Perú: Estadísticas de la Migración Internacional, al 2024 (Una visión từ hồ sơ hành chính)" (PDF). Instituto Nacional de Estadística e Informática (bằng tiếng Tây Ban Nha). tr. 52–54. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2025.
- ^ Ap, Agencia (ngày 14 tháng 6 năm 2019). "Miles de venezolanos ingresan a Perú antes que entre en vigencia requisito de visa humanitaria | Mundo | Gestion". Gestion. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2024.
- ^ "Perú: Perfil Sociodemográfico" (PDF). Instituto Nacional de Estadística e Informática. tr. 198. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2018.
- ^ a b (bằng tiếng Tây Ban Nha) Resonancias.org Lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2016 tại Wayback Machine – Aboriginal languages of Peru
- ^ Budde, Michael L. (ngày 2 tháng 9 năm 2016). Beyond the Borders of Baptism: Catholicity, Allegiances, and Lived Identities (bằng tiếng Anh). Wipf and Stock Publishers. ISBN 978-1-4982-0473-6.
- ^ World University Ranking 2023, Times Higher Education, https://www.times Lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2022 tại Wayback Machine highereducation.com > world-ranking
- ^ "Catholicism and evangelism: the two most common religions in Latin America". Statista. ngày 26 tháng 10 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2022.
- ^ Collyns, Dan (ngày 8 tháng 5 năm 2025). "'The pope is Peruvian': elation in country where pontiff served as bishop". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2025.
- ^ Marca Perú. "Inti Raymi: The Timeless Festival of the Sun". Marca Perú (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2024.
- ^ Manuel García Irigoyen (1898). Historia de la Catedral de Lima, 1535-1898. Imprenta de El País. tr. 5, 8, 10, 16, 19, 21, 25.
- ^ Peru Lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine . CIA, The World Factbook
- ^ Constitución Política del Perú, Điều số 17.
- ^ Instituto Nacional de Estadística e Informática, Perfil sociodemográfico del Perú, tr. 93.
- ^ Samaké, Cynthia LeCount (ngày 5 tháng 4 năm 2019). Textile Traveler's Guide to Peru & Bolivia (bằng tiếng Anh). Schiffer + ORM. ISBN 978-1-5073-0253-8. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2025.
- ^ "Core Indicators, Health Situation in the America's" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2024.
- ^ "Perfil Sociodemografico" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2018.
- ^ Belaunde, Víctor Andrés. Peruanidad. Lima: BCR, 1983, p. 472.
- ^ Bailey, tr 72–74.
- ^ Bailey, tr 263.
- ^ Lucie-Smith, Edward. Latin American art of the 20th century. Luân Đôn: Thames and Hudson, 1993, ISBN 0500203563, các trang 76–77, 145–146.
- ^ Bayón, Damián. "Art, c. 1920–c. 1980". In: Leslie Bethell (ed.), A cultural history of Latin America. Cambridge: University of Cambridge, 1998, ISBN 0521626269, các trang 425–428.
- ^ Martin, "Literature, music and the visual arts, k. 1820–1870", tr. 37–39.
- ^ Martin, "Narrative since c. 1920", các trang 151–152.
- ^ Martin, "Narrative since c. 1920", các trang 178–179.
- ^ Martin, "Narrative since c. 1920", tr 186–188.
- ^ Custer, tr. 17–22.
- ^ Custer, tr 25–38.
- ^ Romero, Raúl "Andean Peru", tr 385–386.
- ^ Olsen, Dale. Music of El Dorado: the ethnomusicology of ancient South American cultures. Gainesville: University Press of Florida, 2002, ISBN 0813029201, các trang 17–22.
- ^ Turino, Thomas. "Charango". In: Stanley Sadie (ed.), The New Grove Dictionary of Musical Instruments. New York: MacMillan Press Limited, 1993, vol. I, ISBN 0333378784, p. 340.
- ^ Romero, Raúl "La música tradicional y popular", tr 263–265.
- ^ Romero, Raúl "La música tradicional y popular", tr 243–245, 261–263.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]
|
|
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Kinh tế
- (bằng tiếng Tây Ban Nha) Banco Central de Reserva. Cuadros Anuales Históricos.
- (bằng tiếng Tây Ban Nha) Instituto Nacional de Estadística e Informática. Perú: Perfil de la pobreza por departamentos, 2004–2008. Lima: INEI, 2009.
- Concha, Jaime. "Poetry, c. 1920–1950". In: Leslie Bethell (ed.), A cultural history of Latin America. Cambridge: University of Cambridge, 1998, pp. 227–260.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]| Từ điển từ Wiktionary | |
| Tập tin phương tiện từ Commons | |
| Tin tức từ Wikinews | |
| Danh ngôn từ Wikiquote | |
| Văn kiện từ Wikisource | |
| Tủ sách giáo khoa từ Wikibooks | |
| Tài nguyên học tập từ Wikiversity | |
- Website chính thức

- Hồ sơ quốc gia từ BBC News
- Peru từ Encyclopædia Britannica
- Mục “Peru” trên trang của CIA World Factbook.
- Peru Lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2008 tại Wayback Machine trên UCB Libraries GovPubs
- Perú trên DMOZ
Wikimedia Atlas của Peru
Hướng dẫn du lịch Peru từ Wikivoyage- (bằng tiếng Tây Ban Nha) Cổng thông tin điện tử của Chính phủ Peru
